Tuesday, 21/09/2021 - 13:08|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Tiểu học Dân Tiến 2. Hotline: 01679706686 (Hiệu trưởng) hoặc 0962446878 (Phó Hiệu trưởng)

Kỷ niệm 72 năm ngày Nhân quyền Thế giới 10/12/1948 - 10/12/2020

Nhân quyền là quyền con người, gồm các quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc.

I. Nhân quyền là gì?

Nhân quyền là quyền con người, gồm các quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc.

Quyền con người bao gồm các quyền dân sự và chính trị, các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. Đó là các quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có - những quyền mà pháp luật cần phải ghi nhận và bảo vệ. Quyền con người lần đầu tiên được ghỉ nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Bản tuyên ngôn nhân quyển và dân quyền của Pháp khẳng định: “Người ta sinh ra tự do quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Quyền con người được luật pháp quốc tế tôn trọng và bảo vệ. Ngày 10.12.1948, tại lâu đài Chailot ở Pari, thủ đô nước Pháp, trong số 58 thành viên đầu tiên của Liên hợp quốc đã thông qua “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người" đánh dấu một bước tiến quan trọng trong qua trình phát triển của xã hội loài người. Ngày 49.12.1966, Đai hôi đồng Liên hợp quốc đã thông qua hai công ước quốc tế về các quyền con người. Công ước thứ nhất có hiệu lực từ ngày 23.3.1976 bảo vệ các quyền dân sự và chính trị, công ước thứ hai có hiệu lực từ ngày 03.01.1976 bảo vệ các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. Nguyên tắc tôn trọng quyền con người được Nhà nước ta thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1992... 

II. Quan điểm, chủ trương của đảng, chính sách pháp luật về bảo đảm quyền con người ở nước ta

Thứ nhất, xây dựng Hiến pháp, pháp luật, chính sách về quyền con người

Thứ hai, tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người

Thứ ba, xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người

Thứ tư, huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp vào quá trình bảo vệ, thúc đẩy quyền con người

Thứ năm, tuyên truyền, giáo dục về quyền con người

Thứ sáu, hợp tác và hội nhập quốc tế trên lĩnh vực quyền con người

1. Các quyền dân sự và chính trị

- Tự do tư tưởng

- Tự do ngôn luận và tự do thông tin-báo chí

- Quyền tự do bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước và xã hội

- Quyền tự do lập hội và hội họp

- Quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng

- Quyền tự do đi lại, tự do cư trú

- Quyền của người đang chấp hành án phạt tù, người bị tạm giam, tạm giữ đề điều tra

- Quyền được xét xử công bằng, bình đẳng trước pháp luật

- Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể

VD: Quyền sống và quyền bất khả xâm phạm về thân thể được Hiến pháp 2013 và Bộ luật Hình sự (2015 sửa đổi 2017) thừa nhận. Theo đó, cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Chương XIV, Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định các hình phạt nhằm ngăn chặn các tội phạm liên quan đến xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, ngăn chặn bắt, giam giữ người trái phép, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người khác.

Nhà nước Việt Nam cho rằng vẫn cần phải duy trì án tử hình trong thời điểm hiện tại để bảo vệ một cách cần thiết với cuộc sống bình yên của mọi người dân, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội. Điều này chỉ nhằm mục đích răn đe và ngăn ngừa tội phạm. Những người ở độ tuổi vị thành niên, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, người bị kết án là người trên 75 tuổi được miễn án tử hình. Điều này phù hợp với Điều 6, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị. Số lượng tội chịu án tử hình được giảm từ 44 còn 29.[218]

- Quyền được bảo vệ riêng tư

VD: Quyền được bảo vệ riêng tư được Hiến pháp 2013 thừa nhận khi Hiến pháp quy định Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luậtthư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Bộ luật Dân sự (2015) quy định việc lưu giữ, thu thập và sử dụng công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải được người đó đồng ý, các thành viên trong gia đình đồng ý, các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau đã biết được trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng. Việt Nam quy định sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của người dưới 15 phải được cha mẹ hoặc người đại diện của người đó đồng ý. Sử dụng hình ảnh để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị nghiêm cấm. Không được sử dụng lý lịch tự của người khác trái pháp luật.[219]

2. Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

- Quyền sở hữu

- Quyền được thụ hưởng các thành tựu kinh tế-xã hội

- Quyền tự do kinh doanh

- Quyền có việc làm và phát triển thị trường lao động:

+ Đảm bảo an sinh xã hội

+ Phát triển thị trường lao động, thúc đẩy việc làm

+ Hoạt động công đoàn

+ Xóa đói, giảm nghèo

+ Đảm bảo nhà ở cho người thu nhập thấp

+ Y tế và Giáo dục

3. Quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương

- Quyền của người dân tộc thiểu số

- Quyền của người cao tuổi

- Quyền của người tàn tật

- Quyền phụ nữ

- Quyền trẻ em

4. Tổ chức nhân quyền

- Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam

- Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam

- Cơ quan nhân quyền quốc gia

II. Kết quả công tác đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, chính sách đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số tại tỉnh Thái Nguyên

Những năm qua, nhiệm vụ đảm bảo ASXH đã được tỉnh quan tâm, sâu sát đến từng đối tượng, trong đó chú trọng đến nông dân, người cao tuổi, trẻ em, nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều vấn đề bức thiết ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn từng bước được giải quyết như: đường giao thông, nhà ở, trường học, trạm xá, bảo hiểm y tế, điện sinh hoạt, thủy lợi,... đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số từ 35.683 hộ, chiếm 19,22% năm 2016, đến cuối 2017 còn 13,5%. Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 theo Kết luận số 36-KL/TU, ngày 27/6/2016 của Tỉnh ủy; Nghị quyết số 15/NQ-HĐND, ngày 18/5/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh; Quyết định số 1845/QĐ-UBND, ngày 29/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh đã được triển khai đồng bộ và thu được nhiều kết quả. Trong 2 năm 2016, 2017, Thái Nguyên có 30.576 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo được vay vốn ưu đãi với tổng số tiền cho vay 1.238.832 triệu đồng để sản xuất, kinh doanh; 1.600 hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở với kinh phí trên 45.621 triệu đồng; trợ giúp pháp lý lưu động tới các địa bàn xã nghèo và cộng đồng dân cư là 2.109 người, trong đó có 539 người nghèo, góp phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân.

Nhiều chính sách phát triển giáo dục và đào tạo được triển khai thực hiện. Năm học 2016 - 2017, có 149.359 người học được hỗ trợ với kinh phí là 108.877 triệu đồng, trong đó miễn, giảm học phí cho 43.401 học sinh phổ thông thuộc hộ nghèo và sinh viên người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hỗ trợ chi phí học tập cho 100.511 học sinh, trẻ mẫu giáo thuộc hộ nghèo theo Nghị định 86/2016/NĐ-CP; hỗ trợ tiền ăn trưa cho 6.745 trẻ em mẫu giáo theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP. Các cấp ủy, chính quyền địa phương đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp với doanh nghiệp tổ chức thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn khu vực bị thu hồi đất theo Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg. Giai đoạn 2011 - 2016, Thái Nguyên có 30.475 lao động nông thôn thuộc vùng dự án bị thu hồi đất nông nghiệp đã được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm, góp phần đảm bảo ổn định cuộc sống cho nhân dân.
Chính sách bảo hiểm y tế được tăng cường. Đến 31/12/2017, số người tham gia BHYT là 1.218.645 người, đạt 97,8% dân số; trong đó, 100% các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người nghèo, dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi tham gia ổn định, thường xuyên; tỷ lệ  học sinh, sinh viên tham gia BHYT đạt 96,9%. Ngoài ra, còn nhiều chính sách ASXH khác được triển khai có hiệu quả như: Chính sách hỗ trợ tiền điện; trợ cấp khó khăn theo Quyết định 471/QĐ-TTg; chính sách trợ giúp xã hội; chính sách hỗ trợ đột xuất góp phần khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn;..

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách ASXH ở Thái Nguyên vẫn còn những khó khăn, hạn chế do một số chính sách chồng chéo về nội dung hỗ trợ. Tình trạng tuyên truyền đạo trái phép diễn biến phức tạp. Tệ nạn xã hội gia tăng. Công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Việc cải cách thủ tục hành chính ở các cấp, các ngành chậm. Một bộ phận đồng bào dân tộc còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước, chưa nỗ lực cố gắng vươn lên để thoát nghèo. Việc bố trí các nguồn lực thực hiện chính sách có lúc chưa kịp thời, nên đã ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất cho người dân. Kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, một số địa phương tỷ lệ giảm hộ nghèo thấp. Công tác huy động các nguồn lực, đặc biệt từ xã hội hóa trong công tác ASXH gặp nhiều khó khăn...

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đảm bảo thực hiện tốt các chính sách ASXH gắn với phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2015 - 2020, Thái Nguyên đã và đang quyết tâm thực hiện các giải pháp chủ yếu như: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách ASXH; quán triệt nguyên tắc công bằng và bình đẳng trong hưởng thụ chính sách ASXH. Kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những điển hình tiên tiến trong thực hiện nhiệm vụ ASXH ở địa phương, cơ sở. Gắn kết hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đang triển khai, thực hiện trên địa bàn với các chính sách ASXH: Chương trình giảm nghèo bền vững; Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Chương trình hỗ trợ xã đặc biệt khó khăn; các dự án ODA hỗ trợ giảm nghèo và phát triển nông nghiệp, nông thôn; các đề án hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số theo các quyết định của Chính phủ... Từng bước nâng cao chất lượng thực hiện chính sách ASXH, chú trọng thực hiện các chính sách bảo trợ đối với toàn dân; mở rộng và phát triển các công trình sự nghiệp bảo trợ xã hội; tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho các đối tượng chính sách, đặc biệt là người có công với cách mạng, những người gặp hoàn cảnh khó khăn; phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng, giữa đáp ứng yêu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài của người dân./.

Tác giả: Hoàng Thị Hải
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Hôm qua : 6
Tháng 09 : 133
Năm 2021 : 4.111